Ở phần trước, chúng mình đã giới thiệu sơ bộ các bước xác định chủ đề cũng như các dạng mô hình thông dụng trong nghiên cứu khoa học. Để nắm rõ hơn về 1 dạng mô hình nhất định (SIR) và cách áp dụng cụ thể, sau đây là các bước thực hiện dự án nghiên cứu “Khả năng ảnh hưởng của việc thực hiện “cách ly xã hội” (social distancing) lên tình hình phát triển bệnh dịch COVID-19”.
I. Giải thích thuật ngữ:
I. Giải thích thuật ngữ:
Bắt đầu từ những bước cơ bản nhất, bạn phải đưa ra khái niệm từ khái quát tới cụ thể các thuật ngữ nghiên cứu. Do cơ sở dữ liệu trong nước có hạn, thông thường, các nhà nghiên cứu phải tham khảo các văn bản ngoài nước, dẫn đến việc dịch thuật chuẩn xác các thuật ngữ thường sử dụng trong nghiên cứu là cần thiết. Trong nghiên cứu COVID-19, gồm có:
- Epidemic (bệnh dịch): bệnh ảnh hưởng đến một số lượng lớn đối tượng trong một cộng đồng/ vùng lãnh thổ.
- Pandemic (đại dịch): bệnh dịch lan truyền rộng rãi đến nhiều quốc gia/ vùng lãnh thổ khác nhau.
- Social distancing (cách ly xã hội): Gia tăng khoảng cách giữa mọi người với nhau, hạn chế tối đa khả năng tiếp xúc để ngăn chặn dịch bệnh lây lan. Đối với COVID-19, khoảng cách quy định là 2m.
Có thể nhận thấy, từ khóa “cách ly xã hội” là trọng tâm của nghiên cứu lần này. Do vậy, bạn tập trung giải thích cụ thể hơn thông qua các trường hợp áp dụng trước, tìm hiểu và phân loại các dạng biểu hiện (nếu có). Đối với đại dịch COVID-19, chính phủ Việt Nam và các nước trên thế giới thực hiện cách ly xã hội bằng cách:
- Khuyến khích làm việc tại nhà thay vì tập trung tại văn phòng.
- Sử dụng các phương tiện điện tử, ứng dụng liên lạc để tổ chức các buổi gặp mặt, họp, trao đổi công việc hằng ngày.
- Hủy/ hoãn các trường hợp tập trung đông người, các sự kiện thể thao/ cuộc thi mang tính quốc tế.
- Đóng cửa các địa điểm tập trung đông người như cửa hàng, khu vui chơi giải trí, quán ăn,...
- Đóng cửa trường học, chuyển sang hình thức học trực tuyến.
Có 2 cấp độ cách ly tiêu biểu trong mùa dịch, tự cách ly (self-quarantined) và cách ly hoàn toàn (isolation).
II. Mô hình SIR:
Mô hình SIR là một trong những mô hình toán học đơn giản nhất để phân tích, dự đoán cho những bệnh truyền nhiễm. SIR chia quần thể (population) thành các nhóm (compartments) riêng biệt tương ứng với từng giai đoạn bệnh hoặc mang tính chất bệnh. Từ đó, chúng ta phân tích sự trao đổi cá thể giữa các nhóm riêng biệt: Susceptible - Infectious - Recovered.
- Susceptible (S): Là nhóm dễ bị phơi nhiễm khi tiếp xúc với các ca truyền nhiễm, nhóm này dễ trở thành bệnh nhân khi dịch bệnh lây lan.
- Infectious (I): Là nhóm đại diện cho thành phần nhiễm bệnh có khả năng lây nhiễm cho nhóm Susceptible và có thể được phục hồi trong một khoảng thời gian nhất định.
- Recovered (R): Là nhóm sau khi can thiệp đã được hồi phục, có khả năng miễn dịch với dịch bệnh họ mà đã mắc phải.
Chúng ta có mối quan hệ N = S + I + R với N là tổng số lượng cá thể trong mô hình phân tích. Nhưng để những con số mang ý nghĩa hơn với bạn đọc, đơn vị của N, S, I, R đã được chuẩn hóa thành phần trăm dân số, tức là N = 100% và S, I, R là phần trăm số lượng cá thể so với tổng dân số.
Hình 1: Biểu đồ minh họa mô hình SIR
